Lịch sử giai đoạn “vịt què” trên chính trường Mỹ

Vịt què ” ( lame duck ) là từ lóng mà nguyên gốc được dùng để chỉ những nhà đầu tư không hề trả nợ. Nhưng ở Mỹ, suốt 100 năm qua, “ vịt què ” được dùng để chỉ những chính trị gia mãn nhiệm yếu ớt, đặc biệt quan trọng gắn liền với những tổng thống đương chức sắp mãn nhiệm .

Mặc dù nghe có vẻ yếu đuối, nhưng các chính trị gia trong thời kỳ “vịt què” không phải lúc nào cũng bất lực hay hiền lành, vô hại. Do không còn cảm thấy phải chịu ơn cử tri nữa vì đã sắp hết nhiệm kỳ, các quan chức này thường tận dụng vị trí của mình để đi ngược lại với nguyện vọng của cử tri. Để ngăn chặn tình trạng này, Mỹ đã thông qua Điều bổ sung sửa đổi thứ 20 trong hiến pháp mang tên Điều sửa đổi về công chức mãn nhiệm (Lame duck Amendment). Luật bổ sung này được thông qua năm 1993, theo đó giảm thời gian của giai đoạn giữa ngày bầu cử và ngày bắt đầu nhiệm kỳ mới của tổng thống và quốc hội. Lễ nhậm chức của tổng thống và phó tổng thống được đổi từ ngày 4/3 thành ngày 20/1. Trong khi quốc hội sẽ triệu tập ngày 3/1 thay vì ngày 4/3.

Tổng thống George W. Bush trình diễn về ngân sách tài khóa 2009 .

Hiện tượng “vịt què” cũng có ngày kỷ niệm ở Mỹ. Ngày 6/2 hàng năm được gọi là Ngày Công chức mãn nhiệm (Lame Duck Day), thời gian để nhìn nhận, đánh giá hoạt động của một công bộc đã hết nhiệm vụ. Ngày này được tổ chức vào ngày 6/2 vì đây chính là thời điểm Điều bổ sung sửa đổi lần 20 được thông qua.

Quốc hội “ vịt què ”

Trước khi Điều bổ sung sửa đổi lần 20 được thông qua năm 1933, các nghị sĩ quốc hội khóa mới sẽ phải chờ 13 tháng mới tới phiên triệu tập đầu tiên của quốc hội. Đây là khoảng thời gian được coi là giai đoạn chuyển giao quyền lực từ đảng này cho đảng khác. Các nghị sĩ sắp mãn nhiệm có 13 tháng tại nhiệm sau khi thất cử.

Tổng thống Bill Clinton cảm ơn người ủng hộ ở Massachusetts trước khi rời nhiệm sở 9 ngày năm 2001.

Bạn đang đọc: Lịch sử giai đoạn “vịt què” trên chính trường Mỹ

Có những lúc mà quốc hội khóa cũ có quá nhiều nghị sĩ không được bầu lại cho khóa sau, khiến cho cả cơ quan này bị coi là “vịt què”. Dù “què” nhưng với 13 tháng trong tay, đây là khoảng thời gian quá dư dả để các nghị sĩ “vịt què” làm những điều mà các nghị sĩ mới sẽ không làm. Hay nói cách khác, quốc hội mãn nhiệm có thể làm nhiều “chiêu trò” hơn giai đoạn bình thường trước đó. Ví dụ, họ có thể buộc tội tổng thống như trong trường hợp năm 1998, ngay trước khi đảng Dân chủ giành lại quyền kiểm soát Hạ viện. Các nghị sĩ phe Cộng hòa sắp mãn nhiệm ở Hạ viện đã đòi luận tội Tổng thống Bill Clinton của đảng Dân chủ, người sắp hết nhiệm kỳ 2 với cáo buộc về khai man và cản trở điều tra vụ bê bối tình ái với cô thực tập sinh Monica Lewinsky.

Trong bối cảnh đó, Hạ viện thông qua tuyên bố luận tội ông Clinton nhưng tuyên bố này không thể kịp qua được ải Thượng viện trước ngày 3/1 – khi quốc hội mới chính thức làm việc. Do đó, tuyên bố luận tội Tổng thống Clinton bị hoài nghi về tính hợp pháp. Giáo sư luật Bruce Ackerman thuộc khoa luật Đại học Yale, khi điều trần trước một ủy ban quốc hội về vấn đề này đã nói: “Tuyên bố luận tội của một Hạ viện mãn nhiệm thậm chí còn ít được coi trọng hơn một dự luật bình thường mà Hạ viện này thông qua”.

Ngoài việc ngăn chặn các nghị sĩ “vịt què” dùng chiêu trò trong thời gian còn lại, Điều bổ sung sửa đổi lần 20 còn được thông qua để ngăn chặn lặp lại những điều đã xảy ra trong cuộc bầu cử năm 1876. Năm đó, ứng cử viên tổng thống Samuel J. Tilden giành chiến thắng nếu tính theo đầu phiếu phổ thông. Nhưng cả ông này và ứng cử viên đối thủ Rutherford B. Hayes đều không giành được đa số phiếu của đại cử tri – những người thực sự sẽ bầu ra tổng thống Mỹ. Số phiếu đại cử tri mà hai ứng cử viên giành được bằng nhau ở một số bang. Hậu quả là hai đảng dồn dập chỉ trích đối phương gian lận trong bầu cử tổng thống. Cộng hòa bảo Dân chủ hà hiếp cử tri da màu, còn Dân chủ tố Cộng hòa gian lận bầu cử.

Tranh biếm họa về quốc hội “vịt què”.

Để chấm dứt bế tắc này, quốc hội Mỹ thời đó đã đi một bước chưa từng được ghi trong hiến pháp. Cơ quan này lập một ủy ban lưỡng viện 15 thành viên gồm các thẩm phán Tòa án Tối cao, hạ nghị sĩ và thượng nghị sĩ. Trong đó có 8 người thuộc đảng Cộng hòa, 7 người thuộc đảng Dân chủ. Kết quả như thế nào hẳn ai cũng đoán ra nếu biết ông Hayes là ứng cử viên đảng Cộng hòa. Ông Hayes được tuyên bố là tân tổng thống Mỹ chỉ 56 giờ trước ngày nhậm chức 4/3/1877.

Thời bấy giờ, khi chưa có Điều sửa đổi bổ sung lần 20, các nghị sĩ quốc hội do thất vọng vì không tái cử có thể đã dùng quyền lực còn lại của mình để chọn tổng thống trái với ý nguyện của cử tri mà họ không còn đại diện nữa. Đáng lưu ý rằng ông Tilden là người chiến thắng nếu tính phổ thông đầu phiếu.

Nếu trường hợp bầu cử năm 1876 lặp lại, chiếu theo Hiến pháp Mỹ hiện nay, Hạ viện sẽ là cơ quan chọn ra tổng thống tiếp theo. Các nghị sĩ trong cùng bang sẽ có một phiếu bầu và cuộc bỏ phiếu bầu tổng thống ở Hạ viện sẽ được tổ chức vào ngày 6/1, tức là 3 ngày sau khi Hạ viện mới nhậm chức.

Tổng thống “vịt què”

Tuy nhiên, ở Mỹ, từ lóng “vịt què” gắn liền với tổng thống hơn là nghị sĩ. Đối với vị trí này, giai đoạn “vịt què” là năm tháng cuối trong nhiệm kỳ cuối cùng của họ vì họ không được bầu lại nữa hoặc họ không thể tranh cử lần nữa. Thông thường, từ lóng này được dùng để chỉ các tổng thống đã tại vị hai nhiệm kỳ và đang ở giai đoạn cuối nhiệm kỳ hai, như Tổng thống Barack Obama hiện nay. Hãy thử khám phá xem các đời tổng thống Mỹ làm gì trong giai đoạn sắp mãn nhiệm này.

Nhiều tổng thống Mỹ thường muốn để lại tiếng thơm hay vớt vát phần nào hình ảnh bằng các chuyến công du ra nước ngoài để “xây dựng hòa bình”. Tháng 1/2008, Tổng thống George W. Bush đã thực hiện một chuyến công du như vậy tới Trung Đông lần đầu tiên trong cương vị tổng thống, hi vọng xóa bớt được phần nào “danh tiếng” một trong những vị tổng thống tệ nhất lịch sử Mỹ. Thời của mình, Tổng thống Ronald Reagan đã gặp cựu lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev để chính thức chấm dứt Chiến tranh Lạnh. Trong khi có tổng thống lại miệt mài thúc đẩy thông qua một dự luật mới thì cũng có vị chỉ gây ra nhiều khó chịu lúc họ sắp rời ghế.

Một trong những hành động mà một tổng thống mãn nhiệm có thể thực hiện và thông thường sẽ thực hiện là ban hành sắc lệnh ân xá. Mặc dù tổng thống Mỹ có quyền ban hành các sắc lệnh này mỗi năm nhưng các sắc lệnh này nếu được ban hành vào giai đoạn mãn nhiệm có thể gây ra những vụ bê bối nghiêm trọng. Điển hình như trường hợp của Tổng thống George H. W. Bush, ông đã ân xá cho một số cựu nhân viên Nhà Trắng dính líu đến vụ bê bối bí mật bán vũ khí cho Iran dù nước này bị cấm vận vũ khí. Vào ngày cuối cùng tại vị, tức 20/1/2001, Tổng thống Bill Clinton đã ban hành một loạt ân xá, trong đó có lệnh ân xá cho anh trai và chồng của một người gây quỹ cho ông.

Trong những ngày tháng cuối trước khi rời nhiệm sở tháng 1/1981, Tổng thống Jimmy Carter đã cam kết chấm dứt cuộc khủng hoảng con tin Iran đã kéo dài từ khi 52 nhân viên Đại sứ quán Mỹ ở Tehran bị bao vây suốt 444 ngày. Vào ngày cuối cùng làm tổng thống, ông Carter đã làm việc thâu đêm để kết thúc đàm phán. Tuy nhiên, nỗ lực của ông đến quá muộn và đã phải trả giá khi không thể tái đắc cử nhiệm kỳ 2: Các con tin chỉ được giải thoát vài phút sau khi đối thủ của ông là Ronadl Reagan tuyên thệ tổng thống.

Đôi khi, tổng thống “vịt què” lại hóa “vịt lành”. Như trường hợp của Tổng thống John Adams, khi sắp mãn nhiệm, Tòa án Tối cáo khuyết một thẩm phán và ông đã may mắn có cơ hội chỉ định một thẩm phán để lấp đầy vị trí đó. Chỉ định thẩm phán cho Tòa án Tối cao vốn được coi là một hành động có ý nghĩa và quan trọng ở Mỹ. Ông đã chọn thẩm phán John Marshall.

Ngoài ra, các tổng thống Mỹ cũng rất “ma lanh” khi sử dụng quyền lực trong những ngày cuối tại vị. Chính quyền của Jimmy Carter từng ban hành một loạt các quy định mới, dài tới 24.000 trang. Chính quyền của ông Bill Clinton thậm chí có 26.000 trang tổng hợp các quy định mới. Với hành động này, một tổng thống có thể “chôn vùi” người kế nhiệm trong núi công việc giấy tờ và do đó, vô hình trung đã kéo dài ảnh hưởng của mình ngay cả khi đã hết nhiệm kỳ.

Một vụ đình đám nhất trong thời gian gần đây liên quan đến giai đoạn “vịt què” là vụ chơi khăm của nhân viên Nhà Trắng dưới thời ông Bill Clinton dành cho lớp nhân viên mới của Tổng thống kế nhiệm George W. Bush. Tên của ông Bush được phân biệt với bố mình, cũng là tổng thống cùng họ tên, nhờ chữ W ở giữa. Vì lý do đó mà toàn bộ phím W trên các bàn phím máy tính trong Nhà Trắng đều bị tháo ra. Nếu không bị tháo thì phím W cũng bị lắp ngược chiều hoặc bị đổ keo siêu dính. Không chỉ thế, các đường dây điện thoại đều bị cắt, tin nhắn thoại bị đổi thành những câu nói tục tĩu. Nhiều đường dây điện thoại bị đấu nối lung tung. Bàn bị lật ngược, thùng rác nằm rải rác khắp nơi, tủ hồ sơ bị dán chặt hồ không thể mở, tranh khiêu dâm bị đưa vào máy in cùng vô số khẩu hiệu tục tĩu. Vụ chơi khăm đã khiến chính quyền mới phải vào cuộc điều tra.

Trường hợp nhẹ nhàng nhất là với Tổng thống Harry S. Truman, khi tỷ lệ ủng hộ ông chỉ ở mức 22% cuối nhiệm kỳ, ông đã biết mình không thể làm được gì mình muốn. Ông chỉ đơn giản lên tàu và về nhà khi hết nhiệm kỳ.

Dù tổng thống nào cũng muốn kết thúc nhiệm kỳ với tư thế ngẩng cao đầu tự hào, nhưng không phải ai cũng làm được điều đó. Có người “què” hơn người khác. Nhưng như nghị sĩ Dân chủ Patrick Leahy nói năm 2007: “Dù là vịt què thì ông ta vẫn là tổng thống” (No president is ever a lame duck. He’s still president).

Thùy DươngMặc dù nghe có vẻ như yếu ớt, nhưng những chính trị gia trong thời kỳ “ vịt què ” không phải khi nào cũng bất lực hay hiền lành, vô hại. Do không còn cảm thấy phải chịu ơn cử tri nữa vì đã sắp hết nhiệm kỳ, những quan chức này thường tận dụng vị trí của mình để đi ngược lại với nguyện vọng của cử tri. Để ngăn ngừa thực trạng này, Mỹ đã trải qua Điều bổ trợ sửa đổi thứ 20 trong hiến pháp mang tên Điều sửa đổi về công chức mãn nhiệm ( Lame duck Amendment ). Luật bổ trợ này được trải qua năm 1993, theo đó giảm thời hạn của quy trình tiến độ giữa ngày bầu cử và ngày mở màn nhiệm kỳ mới của tổng thống và QH. Lễ nhậm chức của tổng thống và phó tổng thống được đổi từ ngày 4/3 thành ngày 20/1. Trong khi QH sẽ triệu tập ngày 3/1 thay vì ngày 4/3. Hiện tượng “ vịt què ” cũng có ngày kỷ niệm ở Mỹ. Ngày 6/2 hàng năm được gọi là Ngày Công chức mãn nhiệm ( Lame Duck Day ), thời hạn để nhìn nhận, nhìn nhận hoạt động giải trí của một công bộc đã hết trách nhiệm. Ngày này được tổ chức triển khai vào ngày 6/2 vì đây chính là thời gian Điều bổ trợ sửa đổi lần 20 được trải qua. Trước khi Điều bổ trợ sửa đổi lần 20 được trải qua năm 1933, những nghị sĩ QH khóa mới sẽ phải chờ 13 tháng mới tới phiên triệu tập tiên phong của QH. Đây là khoảng chừng thời hạn được coi là quá trình chuyển giao quyền lực tối cao từ đảng này cho đảng khác. Các nghị sĩ sắp mãn nhiệm có 13 tháng tại nhiệm sau khi thất cử. Có những lúc mà QH khóa cũ có quá nhiều nghị sĩ không được bầu lại cho khóa sau, khiến cho cả cơ quan này bị coi là “ vịt què ”. Dù “ què ” nhưng với 13 tháng trong tay, đây là khoảng chừng thời hạn quá dư dả để những nghị sĩ “ vịt què ” làm những điều mà những nghị sĩ mới sẽ không làm. Hay nói cách khác, QH mãn nhiệm hoàn toàn có thể làm nhiều “ chiêu trò ” hơn quá trình thông thường trước đó. Ví dụ, họ hoàn toàn có thể buộc tội tổng thống như trong trường hợp năm 1998, ngay trước khi đảng Dân chủ giành lại quyền trấn áp Hạ viện. Các nghị sĩ phe Cộng hòa sắp mãn nhiệm ở Hạ viện đã đòi luận tội Tổng thống Bill Clinton của đảng Dân chủ, người sắp hết nhiệm kỳ 2 với cáo buộc về khai man và cản trở tìm hiểu vụ bê bối tình ái với cô thực tập sinh Monica Lewinsky. Trong toàn cảnh đó, Hạ viện trải qua công bố luận tội ông Clinton nhưng công bố này không hề kịp qua được ải Thượng viện trước ngày 3/1 – khi QH mới chính thức thao tác. Do đó, công bố luận tội Tổng thống Clinton bị không tin về tính hợp pháp. Giáo sư luật Bruce Ackerman thuộc khoa luật Đại học Yale, khi điều trần trước một ủy ban QH về yếu tố này đã nói : “ Tuyên bố luận tội của một Hạ viện mãn nhiệm thậm chí còn còn ít được coi trọng hơn một dự luật thông thường mà Hạ viện này trải qua ”. Ngoài việc ngăn ngừa những nghị sĩ “ vịt què ” dùng chiêu trò trong thời hạn còn lại, Điều bổ trợ sửa đổi lần 20 còn được trải qua để ngăn ngừa lặp lại những điều đã xảy ra trong cuộc bầu cử năm 1876. Năm đó, ứng viên tổng thống Samuel J. Tilden giành thắng lợi nếu tính theo đầu phiếu đại trà phổ thông. Nhưng cả ông này và ứng viên đối thủ cạnh tranh Rutherford B. Hayes đều không giành được đa phần phiếu của đại cử tri – những người thực sự sẽ bầu ra tổng thống Mỹ. Số phiếu đại cử tri mà hai ứng viên giành được bằng nhau ở 1 số ít bang. Hậu quả là hai đảng dồn dập chỉ trích đối phương gian lận trong bầu cử tổng thống. Cộng hòa bảo Dân chủ hà hiếp cử tri da màu, còn Dân chủ tố Cộng hòa gian lận bầu cử. Để chấm hết bế tắc này, QH Mỹ thời đó đã đi một bước chưa từng được ghi trong hiến pháp. Cơ quan này lập một ủy ban lưỡng viện 15 thành viên gồm những thẩm phán Tòa án Tối cao, hạ nghị sĩ và thượng nghị sĩ. Trong đó có 8 người thuộc đảng Cộng hòa, 7 người thuộc đảng Dân chủ. Kết quả như thế nào hẳn ai cũng đoán ra nếu biết ông Hayes là ứng viên đảng Cộng hòa. Ông Hayes được công bố là tân tổng thống Mỹ chỉ 56 giờ trước ngày nhậm chức 4/3/1877. Thời bấy giờ, khi chưa có Điều sửa đổi bổ trợ lần 20, những nghị sĩ QH do tuyệt vọng vì không tái cử hoàn toàn có thể đã dùng quyền lực tối cao còn lại của mình để chọn tổng thống trái với ý nguyện của cử tri mà họ không còn đại diện thay mặt nữa. Đáng quan tâm rằng ông Tilden là người thắng lợi nếu tính đại trà phổ thông đầu phiếu. Nếu trường hợp bầu cử năm 1876 tái diễn, chiếu theo Hiến pháp Mỹ lúc bấy giờ, Hạ viện sẽ là cơ quan chọn ra tổng thống tiếp theo. Các nghị sĩ trong cùng bang sẽ có một phiếu bầu và cuộc bỏ phiếu bầu tổng thống ở Hạ viện sẽ được tổ chức triển khai vào ngày 6/1, tức là 3 ngày sau khi Hạ viện mới nhậm chức. Tuy nhiên, ở Mỹ, từ lóng “ vịt què ” gắn liền với tổng thống hơn là nghị sĩ. Đối với vị trí này, quá trình “ vịt què ” là năm tháng cuối trong nhiệm kỳ sau cuối của họ vì họ không được bầu lại nữa hoặc họ không hề tranh cử lần nữa. Thông thường, từ lóng này được dùng để chỉ những tổng thống đã tại vị hai nhiệm kỳ và đang ở tiến trình cuối nhiệm kỳ hai, như Tổng thống Barack Obama lúc bấy giờ. Hãy thử tò mò xem những đời tổng thống Mỹ làm gì trong tiến trình sắp mãn nhiệm này. Nhiều tổng thống Mỹ thường muốn để lại tiếng thơm hay vớt vát phần nào hình ảnh bằng những chuyến công du ra quốc tế để “ thiết kế xây dựng tự do ”. Tháng 1/2008, Tổng thống George W. Bush đã thực thi một chuyến công du như vậy tới Trung Đông lần tiên phong trong cương vị tổng thống, hy vọng xóa bớt được phần nào “ nổi tiếng ” một trong những vị tổng thống tệ nhất lịch sử vẻ vang Mỹ. Thời của mình, Tổng thống Ronald Reagan đã gặp cựu chỉ huy Liên Xô Mikhail Gorbachev để chính thức chấm hết Chiến tranh Lạnh. Trong khi có tổng thống lại miệt mài thôi thúc trải qua một dự luật mới thì cũng có vị chỉ gây ra nhiều không dễ chịu lúc họ sắp rời ghế. Một trong những hành vi mà một tổng thống mãn nhiệm hoàn toàn có thể thực thi và thường thì sẽ thực thi là phát hành sắc lệnh ân xá. Mặc dù tổng thống Mỹ có quyền phát hành những sắc lệnh này mỗi năm nhưng những sắc lệnh này nếu được phát hành vào quá trình mãn nhiệm hoàn toàn có thể gây ra những vụ bê bối nghiêm trọng. Điển hình như trường hợp của Tổng thống George H. W. Bush, ông đã ân xá cho một số ít cựu nhân viên cấp dưới White House dính líu đến vụ bê bối bí hiểm bán vũ khí cho Iran dù nước này bị cấm vận vũ khí. Vào ngày sau cuối tại vị, tức 20/1/2001, Tổng thống Bill Clinton đã phát hành một loạt ân xá, trong đó có lệnh ân xá cho anh trai và chồng của một người gây quỹ cho ông. Trong những ngày tháng cuối trước khi rời nhiệm sở tháng 1/1981, Tổng thống Jimmy Carter đã cam kết chấm hết cuộc khủng hoảng cục bộ con tin Iran đã lê dài từ khi 52 nhân viên cấp dưới Đại sứ quán Mỹ ở Tehran bị vây hãm suốt 444 ngày. Vào ngày ở đầu cuối làm tổng thống, ông Carter đã thao tác thâu đêm để kết thúc đàm phán. Tuy nhiên, nỗ lực của ông đến quá muộn và đã phải trả giá khi không hề tái đắc cử nhiệm kỳ 2 : Các con tin chỉ được giải thoát vài phút sau khi đối thủ cạnh tranh của ông là Ronadl Reagan tuyên thệ tổng thống. Đôi khi, tổng thống “ vịt què ” lại hóa “ vịt lành ”. Như trường hợp của Tổng thống John Adams, khi sắp mãn nhiệm, Tòa án Tối cáo khuyết một thẩm phán và ông đã suôn sẻ có thời cơ chỉ định một thẩm phán để lấp đầy vị trí đó. Chỉ định thẩm phán cho Tòa án Tối cao vốn được coi là một hành vi có ý nghĩa và quan trọng ở Mỹ. Ông đã chọn thẩm phán John Marshall. Ngoài ra, những tổng thống Mỹ cũng rất “ ma lanh ” khi sử dụng quyền lực tối cao trong những ngày cuối tại vị. Chính quyền của Jimmy Carter từng phát hành một loạt những lao lý mới, dài tới 24.000 trang. Chính quyền của ông Bill Clinton thậm chí còn có 26.000 trang tổng hợp những pháp luật mới. Với hành vi này, một tổng thống hoàn toàn có thể “ chôn vùi ” người tiếp sau trong núi việc làm sách vở và do đó, vô hình trung đã lê dài ảnh hưởng tác động của mình ngay cả khi đã hết nhiệm kỳ. Một vụ khét tiếng nhất trong thời hạn gần đây tương quan đến quá trình “ vịt què ” là vụ chơi khăm của nhân viên cấp dưới White House dưới thời ông Bill Clinton dành cho lớp nhân viên cấp dưới mới của Tổng thống tiếp sau George W. Bush. Tên của ông Bush được phân biệt với bố mình, cũng là tổng thống cùng họ tên, nhờ chữ W ở giữa. Vì lý do đó mà hàng loạt phím W trên những bàn phím máy tính trong White House đều bị tháo ra. Nếu không bị tháo thì phím W cũng bị lắp ngược chiều hoặc bị đổ keo siêu dính. Không chỉ thế, những đường dây điện thoại thông minh đều bị cắt, tin nhắn thoại bị đổi thành những câu nói tục tĩu. Nhiều đường dây điện thoại thông minh bị đấu nối lung tung. Bàn bị lật ngược, thùng rác nằm rải rác khắp nơi, tủ hồ sơ bị dán chặt hồ không hề mở, tranh khiêu dâm bị đưa vào máy in cùng vô số khẩu hiệu tục tĩu. Vụ chơi khăm đã khiến chính quyền sở tại mới phải vào cuộc tìm hiểu. Trường hợp nhẹ nhàng nhất là với Tổng thống Harry S. Truman, khi tỷ suất ủng hộ ông chỉ ở mức 22 % cuối nhiệm kỳ, ông đã biết mình không hề làm được gì mình muốn. Ông chỉ đơn thuần lên tàu và về nhà khi hết nhiệm kỳ. Dù tổng thống nào cũng muốn kết thúc nhiệm kỳ với tư thế ngẩng cao đầu tự hào, nhưng không phải ai cũng làm được điều đó. Có người “ què ” hơn người khác. Nhưng như nghị sĩ Dân chủ Patrick Leahy nói năm 2007 : “ Dù là vịt què thì ông ta vẫn là tổng thống ” ( No president is ever a lame duck. He’s still president ) .

Source: https://blogchiase247.net
Category: Hỏi Đáp

Rate this post